CỞI TRÓI, BUNG RA PHÂN BÓN HỮU CƠ, SẢN PHẨM VI SINH

COI TROI BUNG RA PHAN BON HUU CO SAN PHAM - CỞI TRÓI, BUNG RA PHÂN BÓN HỮU CƠ, SẢN PHẨM VI SINH

Source: CỞI TRÓI, BUNG RA PHÂN BÓN HỮU CƠ, SẢN PHẨM VI SINH

Cần có chính sách và chế tài nghiêm khắc để tạo môi trường thuận lợi cho việc sử dụng các chế phẩm vi sinh, phân hữu cơ, từ đó nâng cao chất lượng chung của đất.

Suy thoái chất lượng đất làm cho ảnh hưởng của hạn, mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long đối với cây trồng có xu hướng ngày càng gay gắt. Ảnh: LHV

Suy thoái chất lượng đất làm cho ảnh hưởng của hạn, mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long đối với cây trồng có xu hướng ngày càng gay gắt.

Chỉ 5-7 năm đã có dịch bệnh bùng phát.

  • Theo nhóm tác giả một nghiên cứu của Viện Di truyền Nông nghiệp về tình trạng thoái hóa đất trong những năm gần đây: Khi hình thành các vùng sản xuất tập trung, dịch bệnh là không thể tránh khỏi.
  • Từ Bắc chí Nam ở nước ta, hễ một vùng bắt đầu hình thành vùng sản xuất hàng hóa thâm canh cao thì thường 5-6 năm đầu là ổn, nhưng sau đó lại xảy ra dịch bệnh. Năng suất và chất lượng sản phẩm cũng giảm dần nhưng không được như giai đoạn đầu.
  • Giai đoạn đầu là đưa phương thức canh tác hữu cơ, vi sinh lên vùng cam ở Hà Giang, bối cảnh lúc đó không khác gì những vùng cam ở Phủ Quỳ (Nghệ An) hay Cao Phong (Hòa Bình) bây giờ. Tức là chỉ sau 5 – 7 năm chu kỳ đầu phát triển tốt, càng về sau càng tàn lụi, bùng phát các loại dịch bệnh, điển hình là vùng cam Quảng Bình (Hà Giang), chỉ sau 5 – 6 năm đã phát triển nhanh chóng, cho năng suất chất lượng cao thì mất dần …
  • Ảnh hưởng của suy giảm chất lượng đất đến canh tác cây trồng, đặc biệt là ở các tỉnh Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long là đáng báo động. Ba năm trở lại đây, chúng tôi triển khai dự án cải tạo đất nhiễm mặn, tiến hành khảo sát ở nhiều tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, nhận thấy nhiều diện tích có biểu hiện bệnh trên cây ăn trái rất rõ.
  • Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ngày càng chịu ảnh hưởng của hạn, mặn, cây ăn trái bị chết và thiệt hại nặng. Sự thiệt hại này ngày càng tiêu cực và nặng nề hơn đối với cây trồng khi kết hợp với tình trạng đất bạc màu lâu ngày do canh tác bóc lột.
  • Cùng điều kiện chịu ảnh hưởng của hạn, mặn như nhau, nhưng một số mô hình thử nghiệm của chúng tôi cho thấy, nơi nào sử dụng cân đối phân bón, có phân hữu cơ, kèm theo chế phẩm vi sinh thì tỷ lệ cây chết do hạn và độ mặn đã không còn đáng kể, trong khi những vườn không áp dụng các giải pháp hữu cơ-vi sinh sâu thì bị thiệt hại nặng, một số vườn gần như chết sạch. Điều này cho thấy nếu chỉ canh tác thuần vô cơ thì hệ vi sinh trong đất hầu như không có.
  • Tại một số vùng chuyên canh thanh long, khảo sát của chúng tôi cho thấy, chỉ trong một vụ (3 tháng), trung bình 26-27 lần nông dân phải phun thuốc bảo vệ thực vật các loại. Với tần suất sử dụng hóa chất như vậy, sẽ khó có vi sinh vật nào có thể tồn tại được trong môi trường khốc liệt như vậy.
  • Ngoài ra, ở nhiều vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh hàng hóa thâm canh cao, hầu như nông dân ít sử dụng phân bón mà thường sử dụng thừa phân vô cơ. Càng được mùa, nông dân càng sử dụng nhiều. sử dụng nhiều phân bón. Điều này dẫn đến hậu quả là hệ vi sinh trong đất ngày càng bị suy giảm, hàm lượng các nguyên tố trong đất không cân đối, bị vôi hóa, là nguyên nhân khiến cây trồng không hút được chất dinh dưỡng.

Phải ngăn chặn nguy cơ thuốc trừ sâu hóa học “ngụy trang” sinh học

Vài năm trở lại đây, việc sử dụng các chế phẩm sinh học, khuyến khích sử dụng phân hữu cơ trong sản xuất mới bắt đầu được chú ý. Với việc chú trọng đầu tư sản xuất phân bón vô cơ, các chế phẩm vi sinh ngày càng hoạt động mạnh mẽ. Đây là một xu hướng rất đáng khích lệ, và có thể trong 3-5 năm tới, cơ cấu phân bón vô cơ và sử dụng chế phẩm vi sinh trong nông nghiệp ở nước ta sẽ còn rất nhiều.

Xu hướng và nhu cầu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học và các chế phẩm sinh học ngày càng lớn, nhưng nếu chất lượng không được kiểm soát chặt chẽ sẽ là 'lợi bất cập hại'. Ảnh: LB.

Xu hướng và nhu cầu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học, chế phẩm sinh học ngày một tăng cao, nhưng nếu không quản lý chặt chẽ chất lượng thì sẽ “lợi bất cập hại”.

Xu hướng và nhu cầu thực tế của các loại vật tư như phân vi sinh, thuốc trừ sâu sinh học, chế phẩm sinh học trong thời gian tới sẽ vô cùng lớn, trong đó đã có những loại thuốc trừ sâu sinh học có tác dụng tốt, có thể thay thế hoàn toàn thuốc hóa học, đồng thời cải tiến. môi trường, giúp giảm chi phí sản xuất theo thời gian …

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra hiện nay là nếu không có cơ chế kiểm soát chặt chẽ chất lượng chế phẩm vi sinh, thuốc bảo vệ thực vật sinh học sẽ có những mặt lợi và mặt hại. Hiện nay, việc nông dân ngày càng nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng chế phẩm sinh học, phân vi sinh, thuốc bảo vệ thực vật sinh học là điều rất đáng mừng. Vì vậy, chẳng hạn với thuốc trừ sâu, nếu là thuốc mà trên bao bì không ghi thuốc trừ sâu sinh học, nhất là có hình “đầu lâu” thì nông dân sẽ “né”, thậm chí không thể thuê người phun thuốc. .

Vì vậy, có tình trạng nhà sản xuất lách quy định, có thể tên thuốc bảo vệ thực vật đăng ký là chế phẩm sinh học nhưng thực chất bên trong lại “pha thêm” các hoạt chất hóa học khác để tăng hiệu quả. buộc phải bán càng nhiều càng tốt. Điều này nếu không được kiểm soát chặt chẽ về chất lượng sẽ tạo ra sự thay đổi về bức tranh sử dụng thuốc BVTV sinh học chỉ làm vỏ bọc, nhưng thực tế là nông dân vẫn đang đổ hóa chất độc hại ra môi trường. . Đây là một vấn đề rất nguy hiểm.

Kiểm tra phải nghiêm ngặt hơn

Hiện nay, khi kiểm tra chất lượng sản phẩm thuốc BVTV, cơ quan chức năng chỉ kiểm tra các hoạt chất đã đăng ký. Vì vậy, cần phải có chế tài để kiểm tra xem trong sản phẩm đó có trộn hoạt chất khác do nhà sản xuất hay không, đặc biệt là kiểm tra xem có hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật bị cấm trong sản phẩm hay không. sản phẩm.

Nông dân không được tiếp cận với phân hữu cơ giá rẻ

  • Hệ vi sinh vật trong đất có tồn tại và phát triển hay không phụ thuộc vào chất lượng môi trường sống của nó là đất. Đây là điều mà ai cũng biết. Tuy nhiên, vấn đề lớn nằm ở chỗ, việc sử dụng các nguồn hữu cơ, phân hữu cơ đôi khi tác dụng của nó đối với sinh trưởng và phát triển của cây trồng không rõ ràng như phân vô cơ nên việc sử dụng phân hữu cơ không rõ rệt như phân vô cơ. Phân bón vô cơ qua thời gian dài giảm dần làm cho hệ sinh thái đất bị phá vỡ, mất cân đối.
  • Có một thực tế là hiện nay, có nơi thừa phân hữu cơ nhưng có nơi lại thiếu. Ví dụ như các trang trại chăn nuôi, lượng chất thải rất lớn và thường không thể xử lý triệt để. Nông dân thường vứt phân và nước thải trực tiếp xuống các bãi cỏ, nơi phần lớn đất bị ô nhiễm chất hữu cơ. Tuy nhiên, có những vùng sản xuất cây ăn quả, cây công nghiệp, rau hoa … tập trung quy mô lớn lại thiếu nguồn phân bón.
  • Xu hướng chăn nuôi ngày càng tập trung với quy mô lớn, không còn phân tán như trước đây. Vì vậy, các vùng trồng trọt tập trung thường khó tiếp cận với nguồn phân hữu cơ từ chất thải chăn nuôi.
  • Vì vậy, để tăng cường sử dụng phân bón hữu cơ và cải thiện môi trường tổng thể và hệ sinh vật đất cho ngành nông nghiệp, sẽ cần có các chính sách và chế tài mạnh hơn. Ở các nước khác, để tránh phát thải của các trang trại, doanh nghiệp chăn nuôi ra môi trường, các doanh nghiệp chăn nuôi sẽ buộc các doanh nghiệp, trang trại chuyên trồng trọt phải trả tiền vận chuyển, xử lý và thải bỏ. Sử dụng phân hữu cơ này.
TS Lương Hữu Thành cho rằng, cần có chính sách, chế tài buộc các doanh nghiệp chăn nuôi phải trả tiền xả thải cho người chăn nuôi để xử lý, sử dụng phân hữu cơ. Ảnh: TL.

TS Lương Hữu Thành cho rằng, cần có chính sách, chế tài buộc các doanh nghiệp chăn nuôi phải trả tiền xả thải cho người chăn nuôi để xử lý, sử dụng phân hữu cơ.

  • Trong khi đó ở nước ta thì ngược lại, tức là các doanh nghiệp, trang trại đang bỏ tiền ra mua phân hữu cơ từ các trang trại chăn nuôi. Ngay cả đối với các loại phân hữu cơ, hữu cơ được sản xuất, đóng gói bài bản, người trồng cũng đang phải mua với giá quá cao.
  • Hiện phân hữu cơ do các nhà máy sản xuất bán ra thị trường phải chịu nhiều chi phí trung gian (trong đó chi phí thương phẩm chiếm 60 – 70%) nên giá rẻ nhất cũng 2.000 đồng / kg. Nếu tính chi phí bình quân / ha, để cùng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng sinh trưởng và cho năng suất cao thì việc bón phân hữu cơ bình quân phải 10 triệu đồng / ha / vụ, quá đắt so với mặt bằng chung. với việc sử dụng phân bón hóa học. Vì vậy, nông dân không mặn mà sử dụng phân hữu cơ vì chi phí sản xuất quá cao.
  • Nếu nông dân dễ dàng tiếp cận được nguồn phân hữu cơ chất lượng, giá rẻ thì chắc chắn không có lý do gì để họ không sử dụng… Qua đó, sẽ tạo ra một cách làm tổng thể. chất lượng đất nông nghiệp bền vững.

(TS Lương Hữu ThànhViện Môi trường Nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Via: dammecaycanh.com



from dammecaycanh.com https://ift.tt/VgeajnE
via Dammecaycanh.com

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHÒNG TRỪ DỊCH HẠI TỔNG HỢP TRÊN CÂY CÀ PHÊ (IPM)